Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

Khánh Hòa: Kiến trúc ngôi đình ở nông thôn xưa

Trong lịch sử dân tộc, vùng đất Khánh Hòa ngày nay chính thức trở thành đất đai Đại Việt vào năm 1653. Cùng với quá trình khai hoang lập làng, quy dân lập ấp, những thiết chế văn hóa truyền thống của người Việt như đình, chùa cũng được xây dựng trên vùng đất mới. Trải qua hơn 3 thế kỷ rưỡi với nhiều đổi thay, biến động, hiện nay Khánh Hòa còn khoảng trên 200 ngôi đình phân bố ở hầu khắp địa bàn các huyện, thị xã và thành phố.

Đình Phú Cang, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.


KIẾN TRÚC NGÔI ĐÌNH
          Ngày xưa vật liệu xây dựng còn thô sơ, nghèo nàn, tùy hoàn cảnh địa phương các đình ở Khánh Hòa thường được xây cất bằng:
- Ghè ống: một loại gạch cổ hình tròn như cái ống, lớn cỡ bình thuỷ 1 lít, dài khoảng 25 phân, đầu dưới bịt kín, đầu trên là miệng hơi túm lại một chút, làm bằng đất sét tốt nung kỹ, chắc hơn gạch thường, chịu đựng trên 100 năm.
- Đá san hô loại miếng to và mỏng gọi là “san hô bánh tráng”, ghép lại hai ba miếng làm một.
- Đá san hô cục to, đẽo bớt cạnh cho gọn.
Những đình ở ven biển thường dùng đá san hô, lấy lên khỏi nước mặn phải phơi nắng mưa ít nhất 6 tháng cho hết chất muối biển rồi mới xây cất, khi đó đá san hô sẽ giữ chất vôi vữa lâu bền cả trăm năm.
      Những hình ảnh tượng trưng cho sự linh thiêng như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Ông Hổ, Lưỡng long tranh châu, Lưỡng long chầu nguyệt … được đắp trên các mái đình, trên án thờ, trước cổng đình, bằng vôi vữa trộn mật đường và nước nhớt của các loại vỏ cây bời lời, dây tơ hồng hoặc các cây có chất keo, độ bền có khi đến 200 năm.
     Nóc đình xưa lợp ngói “âm dương”, đến giữa thế kỷ XIX lợp “ngói vảy cá”, từ thế kỷ XX lợp “ngói tây” là ngói làm theo khuôn của Pháp, bằng xi măng và cát, bền chắc hơn ngói ta bằng đất sét.
  Bên trong đình là các hàng cột to nguyên thân cây cổ thụ. Rừng núi Khánh Hòa vốn nổi tiếng nhiều gỗ quý, tuỳ theo mức đóng góp của nhân dân địa phương mà tha hồ lựa chọn.
      Về kiến trúc, hầu hết những ngôi đình trong tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Nam Trung Bộ đều xây cất cùng một kiểu giống nhau, gồm có:

- CHÁNH ĐIỆN: Chia làm ba gian, gian giữa để bàn thờ chính, trên vách có treo tấm biển viết chữ “THẦN” bằng Hán tự thật lớn. Hai bên để bàn thờ hai vị thần tả - hữu, là hai vị thần hỗ trợ cho thần chính. Trước bàn thờ có cặp chim lạc đứng trên lưng rùa. Kế đến là hai giá cắm lô bộ, binh khí (thường là 18 môn binh khí - thập bát ban võ nghệ), trống, chiêng và một khoảng trống để Hương chức lạy cúng.
  Đồ thờ để trên bàn Thần gọi là “tam sự” gồm có chính giữa là lư hương, hai bên là hai cây đèn, hoặc “ngũ sự” thêm hai ống cắm nhang. Tam sự hay ngũ sự bày thẳng một đường phía ngoài hương án, phía trong có hai độc bình. Chính giữa là một cái khay chân quì, trên để ba cái đài, mỗi đài có chén đựng rượu, cơi trầu và bát nước. Sau ba ngày cúng tế, Ban Tế tự cất hết những đồ thờ chỉ chừa lại cái lư cắm nhang, để phòng kẻ trộm.

- VÕ CA, VÕ QUY: Ngạch cửa của chánh điện dính liền với một gian rộng bằng ba gian trong, thành một nền hình chữ nhật gọi là võ ca, gồm một khoảng nền trống để ghế ngồi ngay giữa, hai bên là sạp gỗ đóng như bậc thang, là nơi dân chúng ngồi xem hát gọi là võ quy. Phía trong là sân khấu để đoàn hát bộ trình diễn mỗi khi cúng kiến hầu vị Thần xem. Đình nào nghèo không có làm sạp gỗ như bậc thang thì dân chúng tự động đem ghế đẩu ngồi xem hát.
  Cạnh đình có căn nhà bếp, phía trước là phòng ăn, gọi là nhà tổ. Trong ngày cúng đình đồng bào đến nấu nướng cho hương chức và nhân dân ăn. Trước cửa vào đình có cổng tam quan với tấm bình phong vẽ hoặc chạm hình cọp, gọi kính cẩn là Ông Hổ. Sau cổng tam quan có nền gạch cao, gọi là nền Xã tắc, giữa có bia thờ Thần Nông, bên trái có miếu thờ Thổ Thần và miếu thờ Sơn Quân, bên mặt có miếu thờ Ngũ Hành và miếu thờ Long Thần.

HƯỚNG CỦA ĐÌNH VÀ CÁCH BÀI TRÍ
  Trước khi cất đình người ta phải nhờ một thầy địa lý hoặc một người am tường về thuật phong thuỷ định hướng ngôi đình. Ngày xưa tổ tiên ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, thường làm theo sách vở của Tàu. Nhà vua dựng đền đài, cung điện, tôn miếu, đền tế Nam Giao đều quay mặt về hướng Nam, có ý mong được sự sáng suốt như lửa đỏ vì hướng Nam thuộc về hành Hoả (lửa). Đình ở Khánh Hòa cũng xây cất không ngoài định lệ trên. Thường thường đình nào cũng quay mặt về hướng Nam với hy vọng dân làng được sống yên ổn, làm ăn khá giả.
       Đồ trang hoàng trong đình theo nghi lễ thông thường gồm có:
Tàng, lọng, cừ, quạt, võng, ngựa, chiêng, trống, kiểng, cổ lịnh, thái bình (cái mõ bằng cây).
- Bát bửu và Lô bộ để trên giá gần bàn thờ Thần, dựng hai bên để ngăn bàn thờ ở gian giữa.
- BÁT BỬU: Xưa nay Bát bửu hay Lô bộ không được ấn định thước tấc hoặc bao nhiêu món, như Bát bửu có nơi 8 món, có nơi 10 hoặc 12. Một tư liệu ghi Bát bửu gồm có: 1. Pho sách, 2. Cuốn thơ, 3. Lẵng hoa, 4. Bầu rượu, 5. Bàn tỳ, 6. Cái quạt, 7. Phất trần, 8. Gậy như ý. Một tư liệu khác ghi Bát bửu là 8 món của 8 vị Tiên cầm ở tay: 1. Cái quạt của Chung Ly Quyền, 2. Đôi xến của Lữ Đồng Tân, 3. Bầu rượu của Lý Thiết Quài, 4. Thanh gươm của Tào Quốc Cựu, 5. Lẵng hoa của Lâm Thái Hoà, 6. Gậy của Trương Quả Lão, 7. Ống tiêu của Hàng Tương Tử, 8. Hoa sen của Hà Tiên Cô.
 LÔ BỘ: Một tư liệu ghi Lô bộ là 8 món: 1. Quả đấm, 2. Quạt, 3. Bút, 4. Bài, 5. Búa, 6. Kích, 7. Đao, 8. Gậy. Một tư liệu khác ghi Lô bộ là 18 món võ khí thời xưa (thập bát ban võ nghệ): 1. Chùy, 2. Trái đấm, 3. Búa, 4. Kích, 5. Kiếm, 6. Song kiếm, 7. Trường thương, 8. Đại Đao, 9. Đoản đao, 10. Siêu đao, 11. Roi, 12. Mác, 13. Khiên, 14. Xà mâu, 15. Giáo, 16. Cung tên, 17. Rìu, 18. Côn. Cũng có nơi ghi 14 hay 16 món kể cả hai bên, có khi trên giá Lô bộ có cả cờ và lọng. Sắm Lô bộ tại đình cho đúng cần phân biệt đình Thần của quan văn, quan võ, hoặc cả quan văn lẫn võ.
- LỌNG: Lọng ở đình luôn luôn là lọng màu vàng, khác nhau theo cấp bậc của vị Thần:

- Thượng đẳng Thần: 4 lọng vàng, mỗi lọng có 20 tụi thòng xuống.

- Trung đẳng Thần: 4 lọng vàng, mỗi lọng có 16 tụi thòng xuống.

Chỉ riêng miếu thờ Phước Thần: 4 lọng xanh, mỗi lọng có 12 tụi thòng xuống. Mỗi ngôi đình có một là cờ lớn là “Cờ lịnh”, thượng lên khi đình có đại lễ hoặc ngày Tết Nguyên Đán. Trong đình có cờ ngũ hành hay năm lá cờ hình vuông có 5 màu: xanh thuộc mộc, đỏ thuộc hỏa, trắng thuộc kim, tím thuộc thủy, vàng thuộc thổ.

ĐÌNH VÀ MIẾU
  Miếu nhỏ hơn đình rất nhiều, diện tích chỉ khoảng hơn 1 đến 2 mét vuông, vừa đủ để bàn thờ và một khoảng trống để phẩm vật cúng kiến. Trong miếu không có tượng Thần Thánh, chỉ có chữ nho trên bức hoành ghi tên vị Thần như bà Cửu Thiên, Bà Chúa xứ, Sơn Thần, Cô Hiên v v… và lư hương, chân nến, hoa treo, đèn kết. Trên nóc miếu người ta gắn hình rồng, cá hoá long, hoặc để trơn như mái nhà.
  Cũng có nơi do địa thế thuận tiện, người ta xây cất miếu khá to như Miếu Bà ở Đèo Bánh Ít (thuộc thôn Hà Thanh, xã Ninh Đa, Ninh Hoà). Miếu Vạn An ở Cây Dầu Đôi (nay thuộc xã Diên An huyện Diên Khánh) ngày trước là cái miếu nhỏ thờ Thần (gọi là miếu Ông Cây Dầu), nhưng từ khi có sự kiện Bình Tây đại tướng Trịnh Phong - lãnh tụ phong trào yêu nước chống Pháp tại Khánh Hòa bị bắt tại mặt trận Hòn Khói rồi bị giặc Pháp chém và treo thủ cấp tại cây dúi phía trong miếu nên sau đó dân làng Phú Ân thờ ông tại miếu này, từ đó gọi là miếu Trịnh Phong.

Nguyễn Man Nhiên