Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Quảng Ninh: Đền Xã Tắc

Đền Xã Tắc được ghi nhận là một trong những công trình không chỉ có giá trị về lịch sử - văn hóa của tỉnh Quảng Ninh, mà còn có ý nghĩa và giá trị lớn lao về chủ quyền, lãnh thổ trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Đền tọa lạc tại một vị trí vô cùng đặc biệt, cạnh bờ sông Ka Long (Ranh giới biên giới Việt – Trung), thuộc địa phận tổ 10, khu 1, phường Ka Long, thành phố Móng Cái. Năm 2005 di tích đã được UBND tỉnh ra Quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.

Từ ngàn xưa, sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam đã gắn với nền văn minh lúa nước. Chính vì thế, đất đai và ngũ cốc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng, chi phối đời sống sinh hoạt của cả cộng đồng; khi nhắc tới Tổ quốc, ta thường nhắc đến cụm từ “Sơn hà - Xã tắc” với ngụ ý coi trọng ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng của hai yếu tố “Xã” và “Tắc”. “Xã” có nghĩa là Thần đất - Vị thần quan trọng nhất trong các vị thần. “Tắc” có nghĩa là Thần Nông (Hay còn gọi là Thần ngũ cốc).

Việc thờ cúng hai vị thần này được hình thành từ ngàn xưa và đã trở thành một nét văn hóa riêng của dân tộc Việt. Các triều đại phong kiến nước ta đều lấy việc thờ Xã Tắc làm trọng. Do vậy, ở mỗi triều đại đều cho xây dựng những khu Đền (hay Đàn) để làm nơi thờ tự với ý nguyện cầu mong Thần linh phù hộ cho đất đai màu mỡ, trồng trọt bội thu, no đủ quanh năm. Đền Xã Tắc - thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh cũng là một ngôi đền được hình thành với ý nghĩa đó.

Đền Xã Tắc được phục hồi từ năm 2010.

Đền Xã Tắc trước kia còn có tên là “Đàn miếu Xã Tắc Đại vương” (Nơi lập đàn để tế long thần thổ địa của bản thôn); Theo Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, Đền được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ XIII, đầu thế kỷ thứ XIV dưới thời nhà Trần để thờ thần Xã Tắc – Bản cảnh thành hoàng của châu Móng Cái xưa; Tại đây còn phối thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, Long thần thổ địa của bản thôn và các vị tiên công của những dòng họ đã có công đến khai khẩn vùng đất này. Năm 2005, đền đã được UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

 Theo lời kể của các cụ cao niên sống quanh khu vực này, trước kia, Đền Xã Tắc được xây dựng tại mép sông Thác Mang với quy mô khá lớn gồm ba gian nhà, mặt quay về hướng Nam, mái lợp ngói âm dương. Đầu thế kỷ XX, trong một lần bão lớn, Đền bị sạt lở và được nhân dân di chuyển vào trong khu vực Xoáy nguồn với quy mô nhỏ hơn trước. Do vậy, Đền còn có tên khác là Miếu Xoáy Nguồn. Trải qua những biến đổi thăng trầm của thời gian, đến nay, đền đã được trùng tu nhiều lần, lần trùng tu lớn nhất là vào năm Kỷ Mão 1879. Trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, đền bị phá hủy, chỉ còn lại một vài tấm bia và nền móng cũ. Sau năm 1989, đền được phục hồi lại với quy mô nhỏ. Để đáp ứng mong mỏi của quần chúng nhân dân dân muốn có một cơ sở thờ tự khang trang, quy mô, năm 2009, đền Xã Tắc đã được UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định cho phép phục hồi và giao cho UBND thành phố Móng Cái làm chủ đầu tư giai đoạn I và BTS Giáo hội phật giáo tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư giai đoạn II, triển khai dự án bằng nguồn vốn xã hội hóa.

Đền Xã Tắc ngày nay được xây dựng theo hướng Nam, trên một khu đất cao, thoáng mát với diện tích khuôn viên khoảng 20.000m2 , phía Đông giáp sông Ka Long, ba mặt còn lại giáp với khu vực đất thuê của công ty liên doanh khách sạn Hồng Vận. Ngôi đền chính có diện tích 308 m2, được xây dựng theo kiểu chữ “công”. Trong đó: tòa tiền đường gồm ba gian hai chái, hai gian chung đường và ba gian hậu cung. Đền được xây dựng chủ yếu bằng gỗ lim, mái lợp ngói vảy rồng, tường xây gạch. Đền được xây hai tầng tám mái với những họa tiết hoa văn chạm trổ truyền thống, tinh xảo, mái lợp ngói mũi hài. Hiện nay tại Đền Xã Tắc vẫn còn lưu giữ được ba tấm bia cổ có niên đại từ những năm 1879, trên đó có ghi danh những người đã góp công, góp của để Trùng tu, xây dựng lại đền. Hiện nay, ba tấm bia này đang được đặt tại khu nhà tạm phía sau Đền.


       Bia ghi công đức tại đền Xã Tắc     
                                         

Theo lời kể của những người dân sống trên địa bàn, Đền Xã Tắc là  một di tích lịch sử văn hóa có quy mô lớn và lịch sử lâu đời. Đây từng là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh linh thiêng của cư dân Móng Cái và các vùng lân cận. Trước kia, ngoài những ngày cúng rằm và mồng một hàng tháng. Hàng năm, tại đền còn diễn ra 5 ngày lễ chính là ngày 16/1, 2/5, 16/8, 16/12, 18/12 (ÂL). Trong những ngày này, người dân trong khu vực được chia thành 5 tổ. Trong một năm, mỗi tổ được phân công lo một lễ chính. Ngày 16/1 là ngày lễ cầu an. Trong ngày này, con lợn được đem ra giết thịt, lòng lợn được nấu thành một vạc cháo to, thịt được luộc lên làm lễ cúng Xã Tắc Đại Vương. Ngoài ra, người dân trong tổ còn làm thuyền giấy, sắm nhiều hoa quả, vàng mã, rượu, bánh… cúng trong suốt một ngày sau đó mang thuyền thả xuống sông cầu bình an, cầu tài, cầu lộc. Còn cháo và thịt được chia cho 5 tổ. Nghi lễ này kéo dài và tồn tại suốt hơn 5 thế kỷ. Đến đầu thế kỷ XX, trải qua thời gian dài do lịch sử, thiên tai, chiến tranh…đền bị xuống cấp và đến giữa thế kỷ XX đền bị bỏ hoang hoàn toàn. Năm 1989, khi quan hệ hai nước Việt - Trung được lập lại, cửa khẩu hai nước được thông thương, một số người dân buôn bán ở Móng Cái đã truyền miệng nhau và đến đây lễ bái. Thấy ngôi đền tuy nhỏ nhưng rất linh thiêng, họ đã cùng nhau đóng góp tiền của để tu sửa lại đền. Dần dần, nơi đây trở lại là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh chính của cư dân sống trên khu vực này.


Lễ Vu lan báo hiếu tại đền Xã Tắc năm 2014

 Với người dân sống trên địa bàn, đền Xã Tắc từ lâu đã trở thành một chốn linh thiêng để họ gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng rất đỗi đời thường của mình. Dần dần, ngôi đền không chỉ mang ý nghĩa là một cơ sở thờ tự, một nơi thể hiện văn hóa, tín ngưỡng của người Việt mà nó còn chứa đựng một ý nghĩa văn hóa to lớn hơn. Lệ tế Xã tắc đã vượt ra khỏi phạm vi thờ thần của một làng, hay một khu vực và trở thành ngôi đền thờ của thần non sông, đất nước đúng như ý nghĩa của cụm từ “Sơn hà Xã Tắc”.

Nằm ở vị trí địa đầu của tổ Quốc, đền Xã Tắc từng là nơi ghi dấu bao thăng trầm, hưng vong của lịch sử, oanh liệt và tang thương, buồn đau và vui sướng. Nhưng dù ở thời nào, dù bĩ cực hay thái lai người dân nơi đây vẫn không quên hương khói, phụng thờ. Đây không chỉ là một địa danh thu hút khách tham quan du lịch, một địa điểm văn hóa tâm linh. Nó đã trở thành một “cột mốc” vững bền khẳng định chủ quyền lãnh thổ Quốc gia, ghi dấu ấn lịch sử nơi ông cha ta thời trước trấn yên bờ cõi và khẳng định nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam nơi địa đầu biên cương của Tổ quốc